Chiều 30/4/1975, GS Trần Đại Nghĩa bồi hồi mở cuốn nhật ký mang đậm dấu vết thời gian ghi dòng chữ: “ Ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhiệm vụ Bác Hồ giao cho tôi đã hoàn thành, vì hoài bão của tôi hồi nhỏ, sứ mạng của tôi rất đơn giản là tham gia về mặt khoa học, kỹ thuật vũ khí trong cuộc đấu tranh vũ trang cách mạng để giải phóng đất nước.
Và nay đất nước đã được giải phóng, tôi không muốn gì hơn nữa…”.
Trong khoảnh khắc thiêng liêng ấy, vị Giáo sư tài ba nhớ đến Bác Hồ kính yêu - người thầy, cũng là người đưa ông về nước, chăm sóc, hướng dẫn và trao cho ông một nhiệm vụ vô cùng quan trọng - nghiên cứu, chế tạo vũ khí để bộ đội ta đánh giặc.
Nhà khoa học lớn của cách mạng, người được mệnh danh là “ông vua vũ khí Việt Nam”, “ông Phật làm súng”… - Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa.
Ba ngày đặc biệt trong cuộc đời của “vua vũ khí” Trần Đại Nghĩa
Trong căn nhà nhỏ trên phố Hàng Chuối (Hà Nội), nơi Giáo sư (GS) Trần Đại Nghĩa sinh sống nhiều năm, Đại tá Trần Dũng Trí lật giở từng trang tư liệu về người cha đáng kính. Ông càng thêm xúc động khi kể về tâm sự của cha trong ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước 51 năm trước.
Ông Trí cho biết, cha của mình có thói quen ghi chép, nghiên cứu suốt ngày đêm. Nhiều tài liệu được ghi chép bằng tiếng nước ngoài nhằm bảo đảm tính tuyệt mật. Trong số những tư liệu sau này gia đình còn lưu giữ, có những dòng lưu bút được GS Trần Đại Nghĩa ghi đúng ngày 30/4/1975.
Một số bút tích của GS Trần Đại Nghĩa được gia đình lưu giữ (Ảnh: Gia đình cung cấp).
Chỉ đôi dòng ngắn ngủi nhưng để có được những đúc kết xúc động ấy là hành trình đầy gian lao. Ở đó, người ta thấy được hình ảnh của một trí thức ôm hoài bão năm 17 tuổi - “chế tạo vũ khí đánh Tây”, đến những ngày nghiên cứu tuyệt mật trên đất Pháp, làm việc miệt mài trong nhà máy chế tạo máy bay ở Đức, từ bỏ cuộc sống nhung lụa, mức lương 22 lượng vàng, theo chân Bác Hồ về nước, chấp nhận cảnh thiếu thốn đủ bề để phụng sự Tổ quốc.
Theo Đại tá Trần Dũng Trí, ngày đất nước thống nhất, cha của ông nhắc đến 3 ngày đặc biệt trong cuộc đời: Ngày 10/9, ngày 20/10 và ngày 5/12.
Trong nhật ký hôm ấy, GS Trần Đại Nghĩa viết: “Hàng năm cứ đến 3 ngày là: Ngày 10 tháng 9, ngày 20 tháng 10 và ngày 5 tháng 12, tôi lại nhớ về quá khứ một cách rất cảm động".
Theo người con trai, đây là 3 ngày gắn với những cột mốc đặc biệt, những quyết định làm thay đổi cuộc đời chàng trai Phạm Quang Lễ (tên thật của GS Trần Đại Nghĩa).
Con trai GS Trần Đại Nghĩa chia sẻ, có 3 ngày rất đặc biệt trong cuộc đời của cha ông (Ảnh: Phạm Hồng Hạnh).
Tháng 6/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng một số đồng chí sang thăm Pháp và tham dự hội nghị tại Fontainebleau nhằm giải quyết các bất đồng về độc lập và thống nhất sau Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946.
Trong quá trình đàm phán, phái đoàn Việt Nam nhất quán theo đuổi các mục tiêu về độc lập chính trị và thống nhất Việt Nam. Song, phái đoàn Pháp chỉ muốn coi Việt Nam là quốc gia tự trị trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp, còn Liên bang Đông Dương là một liên hiệp các quốc gia tự trị tại Đông Dương nằm trong Liên hiệp Pháp.
Các cuộc đàm phán kéo dài đến đầu tháng 9/1946 nhưng đôi bên không đạt được tiếng nói chung. Ngày 10/9/1946, Bác Hồ cho người gọi thanh niên Phạm Quang Lễ khi ấy đang học tập tại Pháp đến thông báo rằng hội nghị Fontainebleau không thành công và hỏi chàng trí thức người Việt có muốn về nước cùng Bác.
“Đáp lại lời Bác Hồ, cha tôi nói ông đã sẵn sàng. Và chỉ 6 ngày sau cuộc gặp - ngày 16/9/1946, cha tôi đã cùng Bác lên chuyến tàu hỏa rời Paris về phía Nam nước Pháp rồi lên tàu thủy về nước”, Đại tá Trần Dũng Trí kể.
Ngày 20/10/1946, tàu cập bến cảng Hải Phòng. Phạm Quang Lễ trở về nước sau 11 năm miệt mài tìm hiểu về vũ khí ở nước ngoài. Tại bến cảng có lực lượng tiếp đón của phía Pháp và đoàn Chính phủ Việt Nam, trong đó có đồng chí Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Cuộc gặp gỡ mãi sau này, khi nhớ lại, GS Trần Đại Nghĩa vẫn rưng rưng. Giáo sư ghi trong hồi ký: “Vị Tổng Tư lệnh trẻ, chỉ hơn tôi 2 tuổi, ôm lấy tôi nói: "Ở nhà nghe tin anh về với Bác, mừng lắm". Tôi cảm động trong tay anh: "Cám ơn anh, tôi mới về nước, chưa làm được điều gì, các anh ở nhà chắc vất vả lắm".
Ngay sau đó, Phạm Quang Lễ bắt tay vào việc. Đang ở Thái Nguyên lo sản xuất vũ khí, Phạm Quang Lễ nhận được điện về Hà Nội gấp để gặp Bác Hồ.
Tại Bắc Bộ phủ, Bác căn dặn chàng thanh niên yêu nước: "Bác quyết định trao cho chú nhiệm vụ Cục trưởng Cục Quân giới. Chú lo vũ khí cho bộ đội. Đây là việc đại nghĩa, vì thế Bác đặt cho chú tên là Trần Đại Nghĩa. Đây là bí danh từ nay trở đi của chú, để giữ bí mật và cũng là giữ an toàn cho bà con thân thuộc của chú ở trong miền Nam".
Ngày 5/12/1946 vì thế trở thành một ngày đặc biệt trong cuộc đời chàng thanh niên yêu nước quê Vĩnh Long. Ngày này, Phạm Quang Lễ được Bác đặt cho một cái tên mới - cái tên gắn với nhiệm vụ vô cùng cao cả, tạo nên một anh hùng huyền thoại của Việt Nam.
Từ đó, trong cương vị Cục trưởng Cục Quân giới, GS Trần Đại Nghĩa đã nghiên cứu và sản xuất thành công các loại vũ khí hiện đại góp phần quan trọng nâng cao sức chiến đấu của bộ đội trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
GS Trần Đại Nghĩa tại chiến khu Việt Bắc (Ảnh: Chụp tư liệu).
Bảo vệ tuyến huyết mạch, tìm lỗ hổng trong loạt vũ khí tối tân
Thời kỳ nhân dân miền Bắc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, xây dựng xã hội chủ nghĩa và đấu tranh thống nhất nước nhà, GS Trần Đại Nghĩa giữ vị trí Thứ trưởng Bộ Công thương, được giao thêm trách nhiệm Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội…
Những năm 1964-1965, tình hình chiến trường ác liệt. Đế quốc Mỹ đã gây ra chiến tranh vô cùng tàn khốc trên khắp miền Nam. Năm 1964, chúng bắt đầu dùng máy bay đánh phá miền Bắc và từ giữa năm 1965 các cuộc tấn công ngày một nhiều, hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam.
Bác Hồ khi ấy đã gợi ý điều động GS Trần Đại Nghĩa trở lại phục vụ quân đội với cương vị là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, chuyên trách chỉ đạo về mặt kỹ thuật vũ khí quốc phòng, một lĩnh vực quan trọng về sức mạnh chiến đấu của quân đội ta.
Bác Hồ làm việc với GS Trần Đại Nghĩa năm 1960 (Ảnh: Chụp tư liệu).
Ông Trần Thành Đức - Thư ký riêng của Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa - chia sẻ trong cuốn Huyền thoại nhà khoa học anh hùng Trần Đại Nghĩa rằng, Giáo sư được mời trở lại quân đội vào thời điểm diễn ra cuộc đối đầu lịch sử của ta với Mỹ trên nhiều mặt trận: Quân sự, chính trị, binh vận, ngoại giao.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, GS Trần Đại Nghĩa đã trực tiếp chỉ đạo hoặc cùng tham gia chỉ đạo nhiều công việc quan trọng. Từ kinh nghiệm quan sát Chiến tranh thế giới thứ hai, ông đã báo cáo với Bác Hồ vấn đề sơ tán trong cuộc để tối ưu, ít gây ảnh hưởng đối với kinh tế, quân sự, giảm thương vong cho hàng triệu người trong kháng chiến chống Mỹ.
Ông còn dùng kinh nghiệm trong Chiến tranh thế giới thứ hai về kết hợp tàu bay, đại bác, phòng không, tên lửa để đánh không quân Mỹ, ngăn chặn B52.
Theo ông Thành Đức, trọng điểm của đế quốc Mỹ là đánh phá ác liệt dọc chiều dài tuyến 559 - đường Hồ Chí Minh, tuyến đường huyết mạch vận chuyển quân lực, vũ khí, phương tiện quân sự cho miền Nam. Trên tuyến đường này, đế quốc Mỹ thiết lập hàng rào điện tử Mcnamara (tên của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ thời điểm ấy).
GS Trần Đại Nghĩa cùng các cán bộ quân giới xem sản phẩm do một nhà máy quốc phòng sản xuất (Ảnh: Chụp tư liệu).
Các loại khí tài điện tử hiện đại được Mỹ áp dụng như cây nhiệt đới, máy đếm, máy thông tin, siêu âm, tia hồng ngoại; các loại mìn lá, bom nổ chậm, bom laser, bom từ trường, bom napan, chất độc hóa học, cùng với hệ thống xe tăng, xe bọc thép…
Ngoài ra, trực thăng vận, các loại máy bay do thám, máy bay gây nhiễu, phản lực "Thần Sấm", "Con ma", "Cánh cụp, cánh xòe" F111A đến pháo đài bay chiến lược B52, cũng được Mỹ thường xuyên huy động vào chiến trận, nhằm phát hiện đoàn xe của ta, địa điểm quân ta tập trung để tìm cách tiêu diệt.
Trước tình thế đó, GS Trần Đại Nghĩa đã nghiên cứu nhiều biện pháp bảo vệ tuyến huyết đường mòn Hồ Chí Minh để quân ta chở các vũ khí chiến đấu cho miền Nam.
Ông phối hợp cùng các lực lượng kỹ thuật quân sự, quân giới, các nhà khoa học kỹ thuật quân sự nghĩ ra cách chống bom từ trường làm cho nổ ở xa; chống bom điều khiển bằng laser; chống tàu bay của Mỹ chiến đấu bay thấp để tránh ra-đa của Việt Nam…
“Mỹ đã dùng một đoàn nghiên cứu, trong đó có nhiều tiến sĩ khoa học và hàng năm chi nhiều tỷ đôla vào nghiên cứu các trang bị, vũ khí để sử dụng ở chiến trường Việt Nam. Trong chiến tranh Đông Dương, Mỹ đã ném 7,8 triệu tấn bom, nhiều hơn số lượng bom đạn tất cả các nước đã sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng rốt cuộc không đạt kết quả mấy”, GS Trần Đại Nghĩa chia sẻ trong hồi ký.
Theo ông Thành Đức, từ ngày trở lại quân đội chỉ đạo công tác kỹ thuật quân sự, GS Trần Đại Nghĩa luôn ghi nhớ lời căn dặn của Bác Hồ khi Bác về thăm bộ đội Phòng không - Không quân. Khi ấy, Bác đã tiên đoán rằng: Sớm muộn rồi giặc Mỹ cũng dùng máy bay chiến lược B52 đánh phá thủ đô Hà Nội, rồi thua, chúng mới chịu thua.
Những lần làm việc với các nhà kỹ thuật phòng không không quân, GS Trần Đại Nghĩa thường nhấn mạnh rằng, kinh nghiệm chiến tranh thế giới đã chỉ rõ, vũ khí dù hiện đại đến mấy đi nữa vẫn có nhược điểm. Vậy nên, biện pháp tích cực nhất để đáp trả đối phương là phải nghiên cứu sâu, phát hiện và khoét sâu những nhược điểm đó.
"Vua vũ khí" Việt chỉ ra rằng, máy bay Mỹ tuy gây nhiễu nhưng không nhiễu được hết. Làn sóng đầu máy để dẫn đường không nhiễu được, nếu nhiễu máy bay cũng không thể sử dụng. Ông đã khai thác điểm mấu chốt này, đồng thời quan sát bằng sóng ra-đa với khí tài quang học để giảm hiệu quả nhiễu của chúng…
Sát cánh cùng 2 cuộc kháng chiến trường kỳ, GS Trần Đại Nghĩa vì thế càng hiểu hơn giá trị của chiến đấu và hi sinh. Ngày đất nước thống nhất, ông đã có thể mỉm cười hạnh phúc bởi hoàn thành được nhiệm vụ mà Bác Hồ giao phó.
Hình ảnh lưu lại chuyến về quê sau ngày thống nhất của GS Trần Đại Nghĩa (Ảnh: Gia đình cung cấp, Phạm Hồng Hạnh).
Theo Đại tá Trần Dũng Trí, sau khi hoàn thành việc nước, tháng 7/1975, cha của ông mới có dịp trở về quê hương Vĩnh Long để thăm mộ cha mẹ, chị gái và gặp gỡ họ hàng.
Chuyến đi ấy vô cùng xúc động bởi sau 40 năm, GS Trần Đại Nghĩa mới được về thắp nén nhang lên mộ phần cha mẹ. Cha mất sớm, năm 1935, ông sang Pháp học rồi mất liên lạc với mẹ khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra. Ngày lần tìm lại được liên lạc thì cũng là lúc ông hay tin mẹ đã qua đời.
Đứng trước mộ phần những bậc thân sinh, dù ông không nói ra nhưng ai cũng hiểu, người con ấy có thể tự hào báo cáo rằng bản thân đã làm đúng lời cha mẹ dạy: “Cố gắng học hành để trở thành người có ích”. Con người có ích ấy đã tạo nên những kỳ tích trở thành huyền thoại cho nền khoa học kỹ thuật quân sự Việt Nam, góp phần làm nên chiến thắng vẻ vang của dân tộc.
GS Trần Đại Nghĩa (1913-1997) là Cục trưởng đầu tiên của Cục Quân giới. Sau năm 1954, ông giữ các chức vụ: Phó Chủ nhiệm Tổng Cục Hậu cần, Phó Chủ nhiệm Tổng Cục Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng (1966-1977).
Bên cạnh lĩnh vực quân sự, trong lĩnh vực dân sự, ông cũng giữ các chức vụ: Thứ trưởng Bộ Công Thương (1951-1960), Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng (1960-1963), Chủ nhiệm Ủy ban Kiến thiết Cơ bản Nhà nước (1963-1972). Ông là Đại biểu Quốc hội khóa II, III. Ông cũng là giám đốc đầu tiên của Trường Đại học Bách khoa.
Trong lĩnh vực khoa học, ông từng giữ các trọng trách: Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam, Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Ngày 8/2/1966, ông được vinh dự tặng danh hiệu Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô.
Năm 1996, ông được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 về Cụm công trình nghiên cứu và chỉ đạo kỹ thuật chế tạo vũ khí (bazooka, súng không giật, đạn bay) trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954). Trước đó, ông cũng được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Ba và Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.
Nguồn: Dantri.com.vn